Nâng cao năng lực nội sinh là hướng đi căn bản, nhưng chính sách giảm nghèo cần có sự sàng lọc, nhận diện đúng nhóm hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để có cơ chế phù hợp.
Thiên tai - “Cú đánh trực diện” vào mục tiêu giảm nghèo
Giai đoạn 2026-2035, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được Quốc hội khóa XV thông qua tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 (gọi tắt là Chương trình MTQG chung) là “đòn bẩy” để phát triển toàn diện vùng “lõi nghèo” của cả nước.
Trong 5 năm tới (2026-2030), dự kiến ngân sách nhà nước sẽ bố trí 423 nghìn tỷ đồng để thực hiện chương trình. Một trong những mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là giảm tỷ lệ nghèo đa chiều (gồm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.
Theo kết quả rà soát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hết năm 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều trong đồng bào dân tộc thiểu số chỉ còn 18,55%. Như vậy trong 5 năm (2026-2030), bình quân mỗi năm chỉ cần giảm tối thiểu 1,71%, mục tiêu này là hoàn toàn khả thi bởi giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giảm nghèo ở địa bàn này đạt bình quân 3,2%/năm.
Không đặt mục tiêu giảm nghèo cao hơn giai đoạn trước là sự thận trọng cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt. Vòng xoáy tái nghèo sau thiên tai đã và đang cho thấy một thách thức vô cùng lớn trong giảm nghèo bền vững.
Gia đình chị Bling Thị Bưởi là một tấm gương vượt khó ở thôn Atêếp, xã A Vương (TP. Đà Nẵng). Từ sự hỗ trợ Nhà nước và mạnh dạn vay vốn tín dụng ưu đãi, gia đình chị chính thức thoát khỏi danh sách hộ nghèo năm 2024 khi có 2ha quế chuẩn bị cho thu hoạch, đàn vật nuôi trong chuồng đủ trang trải chi phí sinh hoạt hằng ngày.
Nhưng trận lũ quét ngày 28/10/2025 đã vùi lấp con đường thoát nghèo của gia đình chị. Từ một hộ vừa thoát nghèo, gia đình lại quay về vạch xuất phát với hai bàn tay trắng, trên vai gánh thêm khoản vay gần 100 triệu đồng trước đó.
Không riêng gia đình chị Bưởi mà với rất nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, thiên tai là “cú đánh trực diện” vào ước mơ thoát nghèo của họ. Trên nghị trường, khi thảo luận về Chương trình MTQG chung trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (tháng 12/2025), đại biểu Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng) đã nhấn mạnh, nhiều vùng, nhiều gia đình vừa thoát nghèo lại quay trở lại điểm xuất phát.
“Một số ý kiến nói rằng với tình cảnh lũ lụt như vừa rồi, nhiều nhà đã thoát hẳn nghèo vì không còn gì để nghèo nữa”, ông Mai nêu thực tế.
Sau thiên tai, các chính sách an sinh gấp rút được triển khai, đặc biệt là “Chiến dịch Quang Trung” đã kịp thời trao mái ấm cho các hộ bị mất nhà cửa. Nhưng cũng cần nhìn thẳng vào thực tế, nếu chỉ dựa vào các biện pháp hỗ trợ trực tiếp, mang tính “giải cứu” thì khó tạo ra chuyển biến lâu dài trong giảm nghèo bền vững.
Khi thoát nghèo không chỉ là chuyện sinh kế
Cùng với tình trạng tái nghèo sau thiên tai, các địa phương đã và đang tìm phương án hữu hiệu để xóa nghèo triệt để cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có khả năng lao động. Đây là những gia đình khó thoát nghèo dù có tăng cường hỗ trợ sinh kế.
Thôn Biều Qua, xã Sơn Mai (Quảng Ngãi) có 142 hộ, 100% là dân tộc H’rê. Hết năm 2025, toàn thôn chỉ còn 6 hộ nghèo, 3 hộ cận nghèo, trong đó có 4 hộ rất khó thoát nghèo.
Gia đình anh Đinh Văn Biên, sinh năm 1986, là một trong những trường hợp đó. Hai vợ chồng tảo tần hôm sớm để chăm sóc con gái Đinh Thị Y Hiền, sinh năm 2015, bị khuyết tật vận động nặng, nhưng dù chăm chỉ đến mấy, cái nghèo vẫn cứ đeo bám.
Trước thực tế đó, UBND xã Sơn Mai đã rà soát các quy định hiện hành, đưa gia đình anh Biên vào danh sách bảo trợ xã hội. Từ tháng 3/2026 trở đi, thực hiện chính sách trợ giúp đối với người bị khuyết tật nặng, mỗi tháng gia đình anh được nhận 1.750.000 đồng; trong đó 1.250.000 đồng hỗ trợ trực tiếp cháu Y Hiền, 500.000 đồng cho hộ đang chăm sóc, nuôi dưỡng.
Không riêng gia đình anh Biên mà ở Quảng Ngãi, nhiều hộ rất khó thoát nghèo do lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Kết quả rà soát hộ nghèo năm 2025, được UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt tại Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 29/1/2026 cho thấy, trên địa bàn có 5.626 hộ nghèo không có khả năng lao động, trong đó có 3.189 hộ có người ốm đau, bệnh nặng, tai nạn.
Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chiếm 41,39% tổng số hộ nghèo của tỉnh. Ngoài ra, trên địa bàn còn có 2.602 hộ cận nghèo không có khả năng lao động (trong đó có 2.339 hộ có người ốm đau, bệnh nặng, tai nạn), chiếm 25,60% tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh.
Đối với những hộ như gia đình anh Đinh Văn Biên, việc thoát nghèo là không hề đơn giản, thậm chí là không thể nếu như thiếu đi sự hỗ trợ trực tiếp. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ, ngoài mục tiêu “duy trì” thì cũng cần tính tới khả năng tạo đột phá để mở con đường thoát nghèo cho các nhóm hộ này.
Khi thảo luận Chương trình MTQG chung trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, đại biểu Huỳnh Thị Ánh Sương (đoàn Quảng Ngãi) cho rằng, hiện tỷ lệ hộ nghèo thuộc nhóm người già yếu, khuyết tật, bệnh mãn tính, không nơi nương tựa chiếm 25% đến 30% tổng số hộ nghèo tại các tỉnh miền núi.
“Đưa các hộ này vào nhóm bảo trợ xã hội là cần thiết, vừa phù hợp với mục tiêu giảm nghèo thực chất, vừa bảo đảm người không có khả năng lao động được hưởng chính sách an sinh phù hợp, ổn định lâu dài hơn, từng bước nâng mức sống của các hộ thuộc nhóm này tiệm cận mức trung bình của cộng đồng”, bà Sương nói.
Giảm nghèo “theo kết quả” sang “theo khả năng chống chịu”
Từ thực tiễn tái nghèo do thiên tai và khó thoát nghèo do lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cho thấy, thước đo tình trạng nghèo không chỉ là thiếu thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản mà còn cần được “định vị” ở khả năng chống chịu trước rủi ro.
Thực tế cho thấy, nếu chỉ đo lường giảm nghèo bằng số hộ thoát nghèo hằng năm, thì những cú sốc như thiên tai hoặc bệnh tật có thể xóa sạch thành quả trong một thời gian rất ngắn. Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận, từ hỗ trợ theo kết quả sang xây dựng năng lực chống chịu.
Vì vậy, giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng lại ở việc đưa một hộ ra khỏi danh sách nghèo, mà phải bảo đảm họ có đủ năng lực để đứng vững trước những biến động bất thường.
Nói cách khác, trọng tâm của chính sách giảm nghèo đang chuyển từ “kết quả trước mắt” sang “nền tảng dài hạn”. Thoát nghèo không còn là đích đến cuối cùng, mà là điểm khởi đầu của một quá trình nâng cao năng lực thích ứng, tích lũy và tự bảo vệ sinh kế.
Thực tế, nhiều địa phương đã bắt đầu chuyển hướng từ hỗ trợ đơn thuần sang xây dựng “lá chắn” cho người nghèo. Thay vì chỉ cấp giống cây trồng, vật nuôi, các chương trình giảm nghèo đã chú trọng hơn đến đào tạo kỹ năng, hướng dẫn sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh cho vay tín dụng ưu đãi phát triển mô hình sinh kế.
Trở lại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi, trước đây đại đa số người dân chỉ quen với rẫy bắp, rẫy mì, thì nay đã liên kết trồng keo, nuôi trâu sinh sản, nuôi gà bản địa, trồng cây ăn quả… Nhiều hộ đã không ngại ngần tiếp cận chính sách hỗ trợ giảm nghèo “có điều kiện” để vươn lên.
Gia đình bà Đinh Thị Ngâm, dân tộc H’rê, từng là một hộ nghèo ở xã Sơn Hạ. Với quyết tâm thoát nghèo, bà đã mạnh dạn vay 50 triệu đồng từ chương trình tín dụng cho hộ cận nghèo để phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Có vốn, gia đình bà Ngâm đã trồng 2,5ha keo lá tràm. Sau 3 năm chăm sóc, cuối năm 2025, diện tích keo đem lại nguồn thu 150 triệu đồng, tạo tích lũy cần thiết để gia đình bà mở rộng sinh kế, từng bước vươn lên thành hộ khá, hộ giàu.
Từ thực tế những hộ thoát nghèo như gia đình bà Đinh Thị Ngâm cho thấy, khi người dân được trang bị sinh kế bền vững và năng lực ứng phó với rủi ro, quá trình thoát nghèo không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thu nhập trước mắt mà còn tạo nền tảng để họ vươn lên ổn định lâu dài. Những chuyển biến từ cơ sở đã đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa một cách tiếp cận mới về giảm nghèo, coi năng lực chống chịu là thước đo quan trọng của phát triển bền vững.
Đại hội XIV của Đảng đã xác lập một bước chuyển căn bản trong tư duy giảm nghèo khi định hướng giảm nghèo theo kết quả sang giảm nghèo theo khả năng chống chịu. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững, bao trùm, gắn liền với chủ động thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai, trọng tâm là phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm yếu thế dễ bị tổn thương.
Bài cuối: Kiến tạo nền tảng giảm nghèo bền vững từ năng lực nội sinh
