Nhiều năm trước, vợ chồng tôi mua một mảnh đất đứng tên mẹ vợ tôi. Sau này, vợ tôi đi làm lại sổ để đứng tên hai vợ chồng. Tuy nhiên, để tiết kiệm vợ tôi nói làm thủ tục thừa kế từ mẹ vợ cho vợ sẽ không phải nộp thuế.
Cuối cùng thì mảnh đất đó hiện tại đứng tên vợ tôi theo hình thức thừa kế từ mẹ vợ. Giả sử trong trường hợp phân chia tài sản thì mảnh đất đó được phân định thế nào?
- Luật sư Quách Văn Hảo (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:
Theo thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất đã được chuyển tên cho vợ bạn theo diện thừa kế riêng.
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP về tài sản riêng của vợ chồng thì "tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân".
Như vậy, mặc dù tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản thừa kế riêng nên về mặt pháp lý là tài sản riêng của vợ bạn.
Tuy nhiên, khi vợ chồng bạn chia tài sản thì tòa án sẽ căn cứ vào người chủ thực chất của tài sản, chứ không chỉ dựa vào người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tạm chia vấn đề của bạn thành hai trường hợp. Thực chất, tài sản này là tài sản do vợ chồng bạn cùng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Mẹ vợ chỉ là người đứng tên thay cho vợ chồng bạn.
Do đó, nếu bạn có đủ cơ sở chứng minh nguồn gốc của tài sản này, về dòng tiền thanh toán lúc mua mảnh đất, về các tin nhắn, cuộc gọi để chứng minh tiền mua đất là của vợ chồng bạn thì tòa án vẫn sẽ công nhận là tài sản chung của hai vợ chồng. Các giao dịch khác đều là giao dịch giả tạo và bị vô hiệu theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bạn không có đủ cơ sở chứng minh các vấn đề nêu trên thì tòa án sẽ căn cứ trên giao dịch thừa kế, dựa trên việc vợ bạn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để công nhận mảnh đất là tài sản riêng của vợ bạn.
