Khám phá
Con người đang làm cạn kiệt nguồn nước ngọt trên Trái Đất với tốc độ chóng mặt bằng cách hút nước ngầm và làm khô cạn các con sông. Mỗi năm, các lục địa đang mất đi lượng nước đủ để đáp ứng nhu cầu của 280 triệu người.
Vào tháng 1/2026, một báo cáo của Liên hợp quốc đã cảnh báo rằng thế giới đang bước vào kỷ nguyên "cạn kiệt nguồn nước toàn cầu", có nghĩa là chúng ta đã gây ra những thiệt hại không thể khắc phục đối với toàn bộ hệ thống nước ngọt.
Trong vài chục năm qua, Giáo sư Kaveh Madani đã làm việc tại các trường đại học ở Thụy Điển, Mỹ và Anh. Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng cho những đóng góp trong việc mô hình hóa toán học các hệ thống phức tạp giữa con người và nước.
Tờ Live Science đã trò chuyện với Giáo sư Madani về ý nghĩa thực sự của tình trạng "cạn kiệt nước", cách các quốc gia có thể giải quyết các vấn đề về nước và tại sao trí tuệ nhân tạo (AI) và các trung tâm dữ liệu đang gây thêm áp lực lên nguồn tài nguyên nước đang khan hiếm trên toàn cầu.
Sự phá sản của nguồn nước
Ông đã đặt ra thuật ngữ "sự phá sản của nguồn nước". Tại sao đây lại là một khái niệm hữu ích để mô tả tình hình nước trên toàn cầu hiện nay?
- Sự phá sản của nguồn nước, theo định nghĩa của tôi, kết hợp hai điều kiện quan trọng. Một là mất khả năng được sử dụng, và hai là không thể đảo ngược.
Tình trạng mất khả năng sử dụng nước xảy ra khi việc sử dụng tài nguyên nước vượt xa tốc độ tái tạo tài nguyên này thông qua quá trình bổ sung tự nhiên khi lượng nước sử dụng nhiều hơn lượng nước mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta mỗi năm thông qua lượng mưa.
Ban đầu, môi trường rất ưu ái chúng ta. Nó chấp nhận việc bị cắt giảm nguồn nước. Nhưng sau một thời gian, thiên nhiên cũng bắt đầu phản ứng tiêu cực và mất khả năng phục hồi. Đó là khi sự mất khả năng được sử dụng kết hợp với tính không thể đảo ngược, có nghĩa là hệ thống không còn khả năng khôi phục lại trạng thái ban đầu.
Điều từng là bất thường trở thành trạng thái bình thường mới. Đó là khi tình trạng thiếu nước trở thành vấn đề mãn tính. Và đó là những gì chúng ta thấy ở nhiều nơi trên thế giới, nơi các hệ thống phải đối mặt với trạng thái bình thường mới và đã mất khả năng phục hồi.
Những hệ thống này không còn trong tình trạng khủng hoảng, hay chỉ là sự sai lệch tạm thời so với điều kiện lịch sử. Những gì chúng ta thấy ở đó là trạng thái bình thường mới của chúng ta, và trên khắp thế giới, chúng ta đang chứng kiến ngày càng nhiều hệ thống rơi vào tình trạng này, mà tôi gọi là "sự phá sản nguồn nước".
Ông lo ngại nhất về những tác động môi trường nào trong 10 đến 20 năm tới?
- Tôi có thói quen không ưu tiên vấn đề môi trường nào hơn vấn đề môi trường khác. Thay vào đó, tôi cố gắng nhắc nhở mọi người về sự liên kết giữa các vấn đề môi trường khác nhau mà thế giới cần giải quyết.
Nhưng chắc chắn, một trong những vấn đề môi trường lớn nhất của thế giới là sự suy thoái nguồn nước về chất lượng và số lượng, ảnh hưởng đến các nguồn tài nguyên tự nhiên phụ thuộc vào nó và nằm bên dưới nó.
Chúng ta có các hệ sinh thái phụ thuộc rất nhiều vào nước. Ví dụ như vùng đất ngập nước ở hạ lưu các hệ thống sông ngòi và sông băng ở thượng lưu các hệ thống sông ngòi. Các thành phần khác bao gồm sông ngòi, độ ẩm của đất, nước ngầm, lớp tuyết phủ...
Chúng ta cũng sẽ thấy, do tác động đến nguồn nước, một số vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Một trong số đó, ví dụ, là vấn đề sụt lún đất, với tốc độ gia tăng trên toàn thế giới. Một ví dụ khác là vấn đề bão cát bụi, đang gia tăng về tần suất và cường độ khắp toàn cầu.
Khi đất trở nên khô hạn, chúng ta không chỉ chứng kiến những trận lũ quét tàn phá dữ dội hơn, mà còn thấy gió thổi các hạt đất và di chuyển chúng hàng nghìn km, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, sức khỏe con người, hàng không, hệ thống năng lượng, chất lượng không khí...
Những khu vực đối mặt vấn đề thiếu nước nghiêm trọng nhất
Theo ông, khu vực nào trên thế giới sẽ phải đối mặt với những vấn đề về nước nghiêm trọng nhất trước tiên?
- Báo cáo về tình trạng cạn kiệt nguồn nước cho chúng ta biết rằng, về cơ bản, ở mọi lục địa có con người sinh sống, tình trạng cạn kiệt nguồn nước đang thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Mặc dù biểu hiện và vấn đề khác nhau, nhưng về cơ bản không có quốc gia nào miễn nhiễm với tình trạng cạn kiệt nguồn nước.
Tình trạng cạn kiệt nguồn nước, giống như phá sản tài chính, có thể xảy ra với các hệ thống bất kể ở nơi giàu hay nghèo nước. Tương tự như phá sản tài chính, việc bạn giàu hay nghèo ngay từ đầu không quan trọng, điều quan trọng là bạn quản lý ngân sách của mình như thế nào.
Bạn có thể là một tỉnh ở Canada giàu nước và rơi vào tình trạng cạn kiệt nguồn nước hoặc phải vật lộn với các vấn đề về nước, ví dụ như ở Alberta, và bạn cũng có thể là một quốc gia Trung Đông như Yemen và phải đối mặt với các vấn đề tương tự.
Chúng ta biết rằng các vấn đề về nước đã rất nghiêm trọng ở các vùng khô hạn của Trung Đông hoặc các vùng khô hạn ở miền tây nước Mỹ, nhưng báo cáo cho chúng ta biết rằng tình trạng cạn kiệt nguồn nước cũng có thể xảy ra ở những khu vực rất nhiều nước.
Tình trạng này không chỉ liên quan đến số lượng nước; mà còn liên quan đến chất lượng nước. Trên thế giới có một số khu vực nhiều mưa, ví dụ như Đông Á hay Đông Nam Á. Ở những nơi đó, lượng nước thì có, nhưng chất lượng lại rất kém. Nước bị ô nhiễm và không thể sử dụng được, vì vậy chúng ta cũng nên lo lắng về những nơi đó.
Ban đầu, chúng ta đã thấy những dấu hiệu cạn kiệt nguồn nước ở Trung Đông và Bắc Phi, và ở những khu vực khan hiếm nước trên thế giới: lưu vực sông Colorado, một số vùng của Mexico hoặc các khu vực khô hạn khác. Nhưng nếu đi khắp thế giới, bạn sẽ thấy rằng những vấn đề này đang xảy ra ở khắp mọi nơi.
Cần kiểm soát nhu cầu và giảm tiêu thụ
Vậy các quốc gia nên thực hiện những bước nào để tránh thảm họa nước?
- Những gì chúng ta đã làm cho đến nay để giải quyết vấn đề thiếu nước là chưa đủ và, theo một cách nào đó, thậm chí còn làm trầm trọng thêm vấn đề. Nếu nhìn lại những gì chúng ta đã làm, có thể thấy rằng chúng ta chủ yếu tập trung vào việc tăng nguồn cung cấp nước thông qua các biện pháp can thiệp công nghệ khác nhau, từ việc đào giếng sâu hơn đến xây đập, vận chuyển nước, khử muối, tái chế và tái sử dụng... Điều chúng ta chưa làm đủ là kiểm soát nhu cầu và giảm tiêu thụ.
Quản lý tình trạng cạn kiệt nguồn nước không chỉ đơn thuần là tăng nguồn cung mà còn là hạn chế tiêu thụ và giảm chi tiêu. Đó là điều cần thiết. Một phần của việc này có thể được thực hiện thông qua công nghệ, vì vậy công nghệ sẽ là một phần của giải pháp.
Nhưng bạn cũng cần thực hiện những cải cách chính sách lớn dẫn đến việc giảm tiêu thụ và loại bỏ những hình thức sử dụng không bền vững. Điều này sẽ ảnh hưởng đến một số lĩnh vực nhất định, và để đảm bảo không gây ra bất công, bạn phải xem xét nhóm nào bị ảnh hưởng và cách giải quyết vấn đề đó.
Các quốc gia cần đa dạng hóa nền kinh tế và giảm áp lực của nền kinh tế lên nguồn nước và tài nguyên thiên nhiên. Ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nông nghiệp là ngành sử dụng nước nhiều nhất. Nhiều nông dân nhỏ lẻ phụ thuộc vào nước để sản xuất lương thực, tạo việc làm và thu nhập, và việc cắt giảm nguồn nước của họ đồng nghĩa với thất nghiệp, đói kém, di cư, căng thẳng...
Các quốc gia phải tránh điều đó, và điều này chỉ có thể thực hiện được nếu tạo ra được các phương thức sinh kế thay thế thông qua việc đa dạng hóa nền kinh tế và tạo việc làm trong các ngành dịch vụ và công nghiệp.
Ngành hoặc lĩnh vực nào sử dụng nước không bền vững nhất, và làm thế nào để cải thiện tình hình?
- Sẽ là một sai lầm chiến lược nếu chúng ta xác định một lĩnh vực nào đó là lĩnh vực tệ nhất và quyết định rằng chỉ cần giảm sử dụng nước trong lĩnh vực đó. Các quốc gia rất khác nhau về giai đoạn phát triển và tình trạng kinh tế, cũng như địa lý và tài nguyên, vì vậy mọi thứ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể.
Mỗi xã hội, mỗi hệ thống, đều phải thực hiện việc tính toán sử dụng nước một cách chính xác và xem xét cách thức sử dụng nước trong hệ thống đó. Ở một số nơi, người sử dụng nước tệ nhất có thể là khu vực đô thị.
Ở một số nơi khác, đó có thể là khu vực công nghiệp gây ô nhiễm nặng nề, và ở nhiều nơi khác nữa, đó có thể là khu vực nông nghiệp, nơi có thể trở nên hiệu quả hơn để giúp ngăn chặn sự trầm trọng thêm của vấn đề. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí, nhưng chúng ta biết rằng lợi tức đầu tư trên mỗi giọt nước lớn hơn ở một số ngành công nghiệp hoặc một số lĩnh vực nhất định so với những ngành khác.
Các quốc gia phải xem xét những con số này để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn. Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng không phải tất cả đều chỉ vì lợi ích kinh tế; đôi khi các quốc gia sử dụng nước để tạo ra an ninh lương thực và sự ổn định thông qua duy trì việc làm.
Chúng ta cần phải cẩn thận khi chỉ trích một lĩnh vực cụ thể và tuyên bố rằng đó chỉ là một lĩnh vực duy nhất mà chúng ta phải tập trung vào, hoặc một phương pháp duy nhất mà chúng ta phải sử dụng trên toàn thế giới để giải quyết các vấn đề về nước.
Lĩnh vực AI ảnh hưởng ra sao tới môi trường?
- Một lĩnh vực đang phát triển và sử dụng rất nhiều nước là AI và các trung tâm dữ liệu. Theo ông điều đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng cạn kiệt nước trong tương lai?
- AI và các trung tâm dữ liệu phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng để hoạt động. Chúng tác động đến tài nguyên nước không chỉ thông qua lượng nước cần thiết cho việc làm mát, vốn rất lớn, mà còn thông qua lượng nước được sử dụng hoặc bị ảnh hưởng để sản xuất năng lượng mà chúng sử dụng.
Đây là một cách sử dụng mới đang phát triển, bất chấp thực tế là chúng ta đã cạn kiệt hoặc gần cạn kiệt nước ở nhiều nơi.
AI là một lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận đầu tư cao, vì vậy bạn có thể lập luận rằng các xã hội có thể chuyển hướng nguồn nước từ một số lĩnh vực khác, nơi tỷ suất lợi nhuận từ việc sử dụng nước không cao bằng, để giúp lĩnh vực này phát triển.
Nhưng điều đó chỉ hợp lý nếu lợi ích được phân bổ và những người mất quyền tiếp cận nguồn nước có thể hưởng lợi từ sự phát triển của AI và các trung tâm dữ liệu. Ví dụ, nếu bạn có một lưu vực nơi trồng cỏ linh lăng cần nước, việc sử dụng nước cho AI và mở rộng các trung tâm dữ liệu tại địa điểm đó có thể là một bước đi rất hợp lý, miễn là người trồng cỏ linh lăng được hưởng lợi từ sự tăng trưởng và thay đổi đó.
Chúng ta phải cẩn thận. Ở một số nơi khác, việc đầu tư thêm nước vào các trung tâm dữ liệu có thể dẫn đến việc ảnh hưởng đến an ninh lương thực và sự phát triển của một số loại lương thực chiến lược, và đó là điều nên tránh. Lĩnh vực này đang được sử dụng ngày càng nhiều, và chúng ta đã chịu áp lực ở nhiều nơi.
Điều này không có nghĩa là chúng ta nên nói không với công nghệ; Điều đó chỉ có nghĩa là chúng ta phải chủ động kiềm chế, kiểm soát và giảm thiểu tác động, đồng thời đảm bảo rằng việc đưa ra các ứng dụng mới sẽ không gây hại thêm cho hệ thống và dẫn đến những thiệt hại không thể khắc phục được.
