Chính sách thuế với hộ kinh doanh vừa phải quản lý chặt chẽ với nhóm doanh thu lớn, rủi ro cao, nhưng đồng thời tạo điều kiện và giảm gánh nặng cho nhóm hộ kinh doanh nhỏ để đảm bảo công bằng và tính khả thi.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, đại biểu Quốc hội đoàn TP.HCM Nguyễn Hoàng Bảo Trân, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cho rằng việc sửa đổi các chính sách thuế, trong đó có chính sách thuế cho hộ kinh doanh cần đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện và phân loại nhóm đối tượng để hỗ trợ cho những người kinh doanh yếu thế nhất.
Hộ kinh doanh là nhóm dễ tổn thương nhất
* Các dự thảo luật thuế được sửa đổi tại kỳ họp Quốc hội lần này có thực sự đưa ra được những chính sách giúp hỗ trợ hộ kinh doanh, doanh nghiệp hay không, thưa bà?
- Các dự thảo luật về thuế lần này đã thể hiện nỗ lực cải cách hệ thống thuế nhưng vẫn còn tạo sự băn khoăn, lo lắng với các hộ kinh doanh, cá thể nhỏ lẻ khi chuyển lên doanh nghiệp vẫn chưa thật rõ nét.
Nhiều quy định mới chủ yếu tăng cường quản lý và thu đúng - thu đủ, trong khi những cơ chế tạo động lực chuyển đổi, như ưu đãi thuế giai đoạn đầu, giảm chi phí tuân thủ hay hỗ trợ kế toán - hóa đơn, vấn đề xử lý hàng hóa tồn đọng trước khi áp dụng chính sách mới khiến người dân còn gặp rất nhiều lúng túng.
Thực tế phần lớn hộ kinh doanh và lao động tự do có thu nhập bấp bênh, không có tích lũy, thu nhập lại chịu ảnh hưởng lớn bởi lạm phát và rất nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế nên khả năng "lớn lên" thành doanh nghiệp là rất khó. Vì vậy muốn đạt mục tiêu cải cách, dự thảo cần bổ sung chính sách hỗ trợ cụ thể, giúp họ có niềm tin và điều kiện để chuyển đổi bền vững.
* Như bà từng lên tiếng tại diễn đàn Quốc hội, các luật về thuế chưa có cơ chế rõ ràng để miễn, giảm hoặc giãn thuế, đặc biệt với những trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai,
dịch bệnh...?
- Nộp thuế là nghĩa vụ của mọi công dân và doanh nghiệp, nhưng thuế cũng mang chức năng phân phối, tạo sự công bằng trong xã hội. Đối với người dân bị thiên tai, dịch bệnh, cần cơ chế miễn - giảm phù hợp.
Sau thiên tai nhiều hộ kinh doanh nhỏ như quán ăn, tạp hóa, xe công nghệ... phải phục hồi từ con số rất thấp; thu nhập có thể quay lại ngưỡng chịu thuế nhưng chưa đủ tích lũy để ổn định. Nếu vừa phục hồi vừa phải nộp thuế ngay, họ rất dễ kiệt quệ.
Vì vậy cần quy định miễn hoặc giảm thuế tối thiểu 3 năm cho nhóm bị ảnh hưởng nặng, giúp họ có thời gian đứng vững và chủ động khôi phục sinh kế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam thường xuyên xảy ra thiên tai.
* Vì sao việc cần thiết phải có chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh, người buôn bán nhỏ và các tiểu thương kinh doanh, thưa bà?
- Hộ kinh doanh, người buôn bán nhỏ và các tiểu thương kinh doanh chiếm tỉ lệ khá cao. Suy cho cùng đa số họ cũng vì kế sinh nhai để tạo thu nhập cho bản thân và gia đình, chứ không phải là những người tạo ra nguồn giá trị gia tăng lớn, tạo ra nguồn lợi nhuận, tích lũy cao
trong xã hội.
Do đó việc có chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh, người buôn bán nhỏ và tiểu thương là rất cần thiết vì họ là nhóm dễ tổn thương nhất trước biến động kinh tế, thiên tai, dịch bệnh và lạm phát. Thu nhập bấp bênh, chi phí đầu vào tăng nhanh, trong khi họ lại thiếu tích lũy và không có khả năng tiếp cận vốn như doanh nghiệp.
Nếu không có hỗ trợ kịp thời, rất nhiều hộ sẽ phải thu hẹp hoặc ngừng kinh doanh, kéo theo mất sinh kế cho hàng triệu lao động. Chính sách hỗ trợ sẽ giúp họ trụ vững, phục hồi và tiếp tục đóng góp cho tăng trưởng kinh tế địa phương.
Không thể quản lý cứng cho tất cả
* Việc áp phương pháp tính thuế trên doanh thu sau khi bỏ thuế khoán, theo bà, có phù hợp hay không khi nhiều lĩnh vực có tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu rất thấp?
- Việc áp dụng phương pháp tính thuế dựa trên doanh thu và bỏ thuế khoán là một bước tiến về minh bạch, nhưng chưa hẳn đã phù hợp với thực tế. Bộ Tài chính cũng đã có điều chỉnh, xem xét nâng ngưỡng chịu thuế nhằm phù hợp với biến động giá cả và mức sống hiện nay.
Thực tế đa số hộ kinh doanh nhỏ dễ "vượt ngưỡng" dù lợi nhuận thực rất thấp thậm chí là không có lợi nhuận vì họ chưa tính lương mà họ được nhận. Với những ngành có chi phí đầu vào lớn như ăn uống, tạp hóa, dịch vụ cá nhân, doanh thu không phản ánh đúng thu nhập, nên tính thuế theo doanh thu rất dễ gây thiệt cho họ.
Vì vậy, chính sách này cần được tính toán linh hoạt hơn, có xét đến đặc thù ngành nghề và mức chi phí thực tế để đảm bảo công bằng và khả thi.
* Theo cơ quan soạn thảo, một bộ phận lớn hộ kinh doanh có doanh thu lớn nhưng chưa kê khai đầy đủ gây thất thu lớn, nên cần phải điều chỉnh quy định thuế để Nhà nước không bị thất thu thuế, thưa bà?
- Việc điều chỉnh chính sách thuế để quản lý chặt chẽ hơn là cần thiết. Tuy nhiên không thể vì một nhóm nhỏ mà áp dụng cách quản lý cứng cho tất cả. Phần lớn hộ kinh doanh, tiểu thương thu nhập bấp bênh, chi phí cao và dễ tổn thương, nên nếu quy định mới quá tải, họ sẽ gặp khó khăn (trên 5 triệu hộ).
Quan trọng là chính sách phải phân loại đúng đối tượng: quản lý chặt với nhóm doanh thu lớn, rủi ro cao, nhưng đồng thời tạo điều kiện và giảm gánh nặng cho nhóm hộ kinh doanh nhỏ để đảm bảo công bằng và tính
khả thi.
* Vậy làm thế nào để chính sách pháp luật về thuế vừa có thể hỗ trợ hộ kinh doanh vừa thúc đẩy hộ kinh doanh lên doanh nghiệp và tránh thất thu thuế?
- Để vừa hỗ trợ hộ kinh doanh nhỏ, vừa thúc đẩy họ lên doanh nghiệp, cần ba giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, thiết kế cơ chế thuế linh hoạt và ưu đãi chuyển đổi, miễn hoặc giảm thuế 2 - 3 năm đầu cho hộ mới chuyển thành doanh nghiệp.
Cùng với đó cần phân loại đối tượng và quản lý theo rủi ro, siết với hộ doanh thu lớn, đơn giản hóa thủ tục cho hộ nhỏ. Và việc xây dựng chính sách thuế cần đồng bộ về hỗ trợ và chuyển đổi số, kèm tư vấn kế toán, hóa đơn điện tử, tiếp cận vốn và hỗ trợ phục hồi sau thiên tai, dịch bệnh, để họ có thể phát triển bền vững.
